66.QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN EDGAR ALLAN POE – NHÌN TỪ BỨC TRANH DỊCH THUẬT

pOE

 

TÓM TẮT

 Edgar Poe (1809-1849) là tác giả người Mỹ đầu tiên đến với văn chương Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XX . Qua bức tranh dịch thuật, có thể thấy con đường Edgar Poe đến với văn học Việt Nam diễn ra qua ba giai đoạn với những đặc điểm khác nhau. Suốt gần một thế kỉ nay, tác phẩm của Edgar Poe vẫn không ngừng hiện diện trong bức tranh toàn cảnh của văn học Việt Nam. “Nỗi ám ảnh Edgar Poe” đang dần biến thành một nhu cầu thôi thúc đến với thiên tài độc đáo này. Hai trăm năm đã trôi qua, Edgar Poe không còn chỉ là tài sản riêng của văn học Mỹ nữa mà đã trở thành báu vật chung của nhân lọai, trong đó có Việt Nam.

1.Mở đầu

1.1. Edgar Allan Poe (1809-1849) là một hiện tượng độc đáo của Văn học Mỹ thế kỷ XIX. Tuy chưa được chính thức đưa vào chương trình giảng dạy các cấp, không có những ánh hào quang rực rỡ bao phủ cuộc đời và sáng tác của ông như một số tác giả cùng thời, nhưng Poe được đánh giá là nhà thơ thiên tài, người báo hiệu cho chủ nghĩa tượng trưng của thơ ca Pháp và cả thế giới, “lý thuyết gia” của phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật”. Đồng thời, ông cũng được xem là “cha đẻ” của thể loại truyện trinh thám và truyện kinh dị, người đặt nền móng cho thể loại truyện khoa học viễn tưởng và truyện phân tích tâm lý sau này. Tên tuổi, tài năng của Edgar Poe ngày càng được thừa nhận và thu hút sự quan tâm của người đọc cũng như giới nghiên cứu lý luận phê bình, sáng tác không chỉ trong biên giới nước Mỹ mà đã mở rộng tầm ra nhiều nước trên thế giới.

1.2. Với văn học Việt Nam, Edgar Allan Poe không phải là một cái tên xa lạ. Chính Poe là tác giả Mỹ đầu tiên có tên trên trang viết tiếng Việt ngay từ những năm đầu thế kỉ XX (1917). Từ lúc xuất hiện đến nay, 92 năm đã trôi qua, dấu ấn Edgar Poe tuy có lúc đậm, có lúc nhạt và cả những khoảng trống, khoảng trắng ở từng miền Nam, Bắc do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước song sáng tác của ông vẫn không ngừng hiện diện trong bức tranh toàn cảnh của văn học Việt Nam. Đặc biệt là số lượng bùng nổ những truyện dịch, những bài viết, đề tài nghiên cứu về ông trong mười năm đầu tiên của thế kỉ XXI này. Và đối với giới nghiên cứu, phê bình văn học hiện nay, Edgar Poe là một hiện tượng đang được tìm tòi, khám phá để khẳng định những mặt ảnh hưởng, và các sáng tác của ông có ý nghĩa thế nào đối với quá trình hình thành và phát triển lý luận, thơ ca và truyện ngắn hiện đại của nền văn học Việt Nam.

1.3. Năm 2009 là năm nước Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới trọng thể tổ chức kỉ niệm 200 năm ngày sinh Edgar Poe. Đây là một sự kiện lớn đối với văn học Mỹ và văn học thế giới. Cuộc đời, văn nghiệp và ảnh hưởng của Poe đối với văn học nghệ thuật Mỹ cũng như văn học nghệ thuật thế giới đang được nhiều trường đại học Mỹ và nhiều nước Âu, Á tôn vinh. Tưởng nhớ 160 năm ngày mất của Poe (7-10-1849), hòa nhịp vào dòng những hoạt động kỉ niệm năm Edgar Poe của thế giới, bài viết của chúng tôi sẽ giới thiệu hai vấn đề: Edgar Poe đã đến với Văn học Việt Nam từ khi nào? Đặc điểm của quá trình tiếp nhận Edgar Poe ở Việt Nam ra sao? Đây chỉ là những phác họa ban đầu về quá trình tiếp nhận Edgar Poe ở Việt Nam qua bức tranh 2/3 thế kỉ dịch thuật tác phẩm của ông. Do phạm vi của bài viết có hạn nên chúng tôi chỉ hệ thống lại quá trình tiếp nhận Edgar Poe qua hoạt động dịch thuật, không đi sâu vào phần nghiên cứu phê bình, phân tích cụ thể tác phẩm của Poe cũng như ảnh hưởng tác động của Poe đối với các tác giả văn học Việt Nam.

 

  1. Quá trình tiếp nhận Edgar Poe ở Việt Nam qua ba giai đoạn dịch thuật

Thống kê, hệ thống những sách báo trước đây còn lưu lại ở các thư viện ở thành phố, các công trình khảo cứu văn học, cũng như tham khảo các ý kiến, nhận định, của nhiều học giả tên tuổi Việt Nam từ đầu thế kỉ đến nay, chúng tôi tạm chia quá trình Edgar Poe đến với Văn học Việt Nam thành ba giai đoạn với ba đặc điểm khác nhau. Xác định mốc của từng giai đoạn này, bài viết dựa trên cơ sở chính là sự xuất hiện các tác phẩm của Edgar Poe được dịch ở Việt Nam. Đồng thời có chú ý đến những mốc sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước để lý giải những đặc điểm các giai đoạn tiếp nhận này.

  • Giai đoạn 1- đầu thế kỉ XX đến 1945: Con đường gián tiếp – thụ động
    • Những năm đầu thế kỉ XX, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của nước ta, phần lớn văn học nước ngoài, chủ yếu là văn học Pháp và một số nước phương Tây Anh, Mỹ, Nga…được tầng lớp trí thức Việt Nam tiếp xúc bằng Pháp ngữ. Một trong những kênh tiếp nhận văn học Pháp nói riêng và phương Tây nói chung vô cùng quan trọng là hệ thống giáo dục của nhà trường Pháp Việt. Theo hồi kí của Vũ Ngọc Phan, chương trình học trong các trường trung học Tây cũng như trung học Pháp Việt, thực dân Pháp quy định “tiếng Pháp là tiếng mẹ đẻ, tiếng Anh là sinh ngữ được xếp hàng đầu (1 ére langue), còn tiếng Việt bị liệt vào tiếng ngoại quốc với các sinh ngữ Ý, Đức, Tây Ban Nha.” (Vũ Ngọc Phan, 2008, 367). Cấu trúc môn Pháp văn ở bậc cao đẳng tiểu học bao gồm ba phần: chính tả, từ vựng, ngữ pháp (3h/tuần); giảng văn (lecture expliquée) và học thuộc lòng (4h/tuần) và rèn luyện kỹ năng viết tiếng Pháp (2h/tuần). Tuy không hề có giờ văn học riêng nhưng học sinh lại được tiếp xúc với hầu hết những tác phẩm triết học, văn học Pháp tích hợp trong một môn học chung là Pháp văn với số tiết đã nêu ở trên, chủ yếu là giới thiệu văn chương cổ điển. Hữu Ngọc từng nhớ lại: “Tôi biết Edgar Poe qua truyện Con cánh cam vàng và bài thơ Con quạ từ thời học trung học ở trường Bưởi.” (Hữu Ngọc, 2000, 529).
    • Với ý thức tiếp thu tinh hoa văn hóa của các nước Thái Tây để xây dựng nền văn học quốc ngữ buổi đầu còn phôi thai.., Năm 1917, Phạm Quỳnh trong bài giới thiệu Thơ Baudelaire đã khẳng định “Baudelaire là một nhà thơ có tài nhất nước Pháp về thế kỉ 19” và liệt kê tóm tắt các tác phẩm của Baudelaire, trong đó có “bộ dịch đoản thiên tiểu thuyết của văn hào nước Mỹ Edgar Poe” (Phạm Quỳnh, 2003, 381). Tuy chỉ một dòng ngắn ngủi nhắc đến tên Edgar Poe nhưng Phạm Quỳnh đã là người đặt cái mốc đầu tiên cho văn học Mỹ, gợi ý cho bao thanh niên trí thức Việt Nam tìm đọc Edgar Poe với một niềm say mê khám phá những chân trời mới lạ của văn chương. Nhưng mãi đến hai mươi chín năm sau (1936), theo tài liệu mà chúng tôi hiện có trong tay, tiểu sử tóm tắt cùng bản dịch đầu tiên hai bài thơ Con quạ (Le Corbeau) và Mộng ảo (Un rêve dans un rêve) của Edgar Poe mới xuất hiện trong Danh văn Âu Mỹ do Nguyễn Giang dịch.

Tất nhiên, không phải đến hai bài dịch này độc giả mới tiếp cận Edgar Poe. Trong hồi ký Những năm tháng ấy, Vũ Ngọc Phan nhớ lại những năm 1932-1933: “Xem được Thần khúc của Đăng-tơ, Đông ki-sốt, Những truyện kì quái của Hốpman (Hoffmann), Truyện kì lạ của Êtga Pô (Edgar Poe) cũng phải xoay trở khá vất vả.” Năm 1934, trong lời tựa tập truyện kinh dị Vàng và máu của Thế Lữ, Khái Hưng cũng phát hiện: “Tác giả những truyện Vàng và máu và Một đêm trăng đã tỏ ra có óc khoa học của Edgar Poe và tâm hồn thi sĩ của Bồ Tùng Linh..”(Phạm Đình Ân, 2006, 416). Nghĩa là cả thơ và truyện của Edgar Poe đã đến với những “siêu độc giả” Việt Nam đầu tiên từ rất sớm và đọng lại trong lòng họ những ấn tượng không thể nào quên.

Như vậy, tác phẩm bằng tiếng Việt đầu tiên của Poe xuất hiện ở Việt Nam là do Nguyễn Giang dịch, và là hai bài thơ, không phải là Truyện kì lạ do Vũ Ngọc Phan dịch năm 1944 như một số bài viết đã công bố và cả một số luận văn, luận án trích dẫn lại từ bài viết Tình hình giới thiệu và nghiên cứu văn học Mỹ ở Việt Nam của hai tác giả Mai Hương và Nguyễn Thị Huế. Theo Nguyễn Hồng Dũng, năm 1941, cũng chính Nguyễn Giang dịch và xuất bản một tập Truyện kinh dị của Edgar Poe. Tiếc là hiện nay chúng tôi chưa tìm được văn bản của bản dịch này cũng như bản dịch Truyện kì lạ của Vũ Ngọc Phan tại các thư viện lớn ở thành phố Hồ Chí Minh.

Có thể thấy, ở những năm đầu thế kỉ này, đáp ứng nhu cầu đổi mới văn học, các nhà văn đã chủ trương “đem phương pháp Thái Tây áp dụng vào văn chương An Nam”, để thoát khỏi ảnh hưởng nặng nề của lối văn chương biền ngẫu đầy rẫy những ước lệ ràng buộc cũ. Cùng với nhiều tác giả cổ điển Pháp, việc tiếp nhận Edgar Poe đã đi con đường trước tiên là dịch thuật để tìm hiểu, học hỏi cái hay trong tư tưởng, trong cấu tứ và kĩ thuật sáng tác. Mặc dù các dịch giả có ý thức chủ động tiếp thu cái hay, cái đẹp của văn hóa văn học phương Tây như đã nêu trên nhưng xét về cơ bản, xuất phát điểm, văn học Pháp và Edgar Poe vẫn được đội ngũ này tiếp nhận từ ghế nhà trường trong các giờ học bắt buộc môn tiếng Pháp và thông qua chiếc cầu nối là văn học Pháp do đó, nói chung, đặc điểm tiếp nhận Edgar Poe ở 40 năm đầu thế kỉ vẫn là con đường bị động và gián tiếp.

  • Giai đoạn thứ hai (1945 – 1986): Vừa gián tiếp-bị động vừa trực tiếp- chủ động ở phạm vi các đô thị miền Nam

2.2.1. Có hai lý do để chúng tôi chọn mốc giai đoạn thứ hai từ 1945 đến 1986. Lẽ ra chúng tôi phải chọn mốc cho giai đoạn thứ 2 từ năm 1949 để nhất quán với tiêu chí phân chia giai đoạn là dựa vào sự xuất hiện tác phẩm dịch của Poe (1949 là năm Con cánh cam vàng của Poe được Thiết Can dịch và nhà Nam Việt xuất bản tại Sài Gòn).

Lý do thứ nhất bởi 1945 là năm có dấu mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc: Cách mạng tháng tám thành công, nước ta giành được độc lập, tự do sau gần một thế kỉ đô hộ của thực dân Pháp. Sự kiện lịch sử này đã chi phối toàn bộ cuộc sống của dân tộc và nhất là văn học bởi quá nhiều biến động dồn dập. Trong những ngày tháng lịch sử đầy sôi động ấy, vận mệnh dân tộc đã trở thành tiếng nói chính, những buồn thương, mơ mộng vẩn vơ cá nhân được xếp lại. Văn học bước vào thời kì nhận đường đầy băn khoăn trăn trở mò mẫm của đội ngũ sáng tác. Nhưng lý do thứ hai mới là quyết định vì giai đoạn 1945-1986 này đánh dấu một giai đoạn tiếp nhận thứ hai khá đặc biệt đối với những tác phẩm của Edgar Poe: đối tượng tiếp nhận chủ yếu là giới trí thức miền Nam Việt Nam, còn suốt 40 năm giữa cuối thế kỉ XX này, tác phẩm của Poe hoàn toàn vắng bóng ở miền Bắc, mảnh đất đã từng nồng nhiệt chào đón Edgar Poe những năm đầu thế kỉ và đã từng có những hoa trái đầu mùa đáng trân trọng.

 2.2.2. Sự tiếp nhận đứt quãng ở các đô thị miền Nam

2.2.2.1. Giai đoạn này việc tiếp nhận văn học Mỹ cũng như Edgar Poe chủ yếu đi theo con đường vừa gián tiếp vừa trực tiếp – vừa chủ động vừa bị động bằng tiếng Pháp lẫn nguyên tác tiếng Anh (hai ấn phẩm năm 1949 và 1953 vẫn dịch từ tiếng Pháp). Điều này cũng phản ánh đúng thực tế lịch sử, sau hiệp định Gienève 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt, miền Nam lại rơi vào một “nhà nước bảo hộ” thứ hai sau khi thoát khỏa ách thống trị của thực dân Pháp: đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, tiếng Pháp vẫn tiếp tục được giảng dạy trong nhà trường song song với tiếng Anh, đến thập kỉ 60 mới mất dần vị trí sinh ngữ chính, chấp nhận vai trò sinh ngữ thứ hai. Ở Sài Gòn, năm 1949, truyện The Gold Bug của Poe đã được Thiết Can dịch với nhan đề Con cánh cam vàng. Năm 1953, Nhà xuất bản Tân Á Sài Gòn đã xuất bản tập truyện Kho vàng bí mật (lấy tên từ The Gold Bug) của Poe gồm 9 truyện lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam: Con mèo đen, Chiếc mặt nạ của xích tử thần, Vụ án mạng sau nhà xác, Quỷ nhập tràng, Kho vàng bí mật, Thế giới người điên, Một buổi xuống thăm đáy biển, Mấy dòng nhật kí trong một chiếc chai, Giọt máu cuối cùng của dòng họ Use. Có 8/9 truyện này năm 1957 được Hoàng Lan giới thiệu trong tập truyện Con bọ hung vàng do nhà xuất bản Như Nguyện phát hành, bổ sung thêm 4 truyện Một vụ báo thù ghê gớm, Một truyện thôi miên, Lá thư mất cắp, Bức hình bầu dục. Hai tập truyện này, nhìn chung các bản dịch khá gần gũi từ tiêu đề, nội dung, ngôn ngữ diễn đạt. Chỉ có tựa đề Kho vàng bí mật được Hoàng Lan đổi sát với nhan đề trong nguyên tác Con bọ hung vàng(The Gold Bug).

2.2.2.2. Năm 1956, bài thơ Con quạ (The Raven) và tiểu luận nổi tiếng Triết lý sáng tác (Philosophy of Composition) của Edgar Poe gồm cả nguyên tác tiếng Anh và bản dịch của học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) được xuất bản ở Sài Gòn trong bộ Luyện văn I, II, III của ông. Công trình này ra đời những năm 1953-1957 khi tiếng Việt trở thành chuyển ngữ chính được sử dụng trong các ban Tiểu học và Trung học, chương trình có thêm giờ Việt Ngữ. Mục đích là giúp thanh niên, nhất là học sinh, sinh viên “có thêm một tài liệu tham khảo trong cách nói, cách viết” để “chẳng những luyện văn và hiểu văn, mà đồng thời còn có thể tẩy rửa một cách gián tiếp những tác phẩm cẩu thả của những nhà văn non nớt.” (Nguyễn Hiến Lê, 1952, 11). Trong Luyện văn II, Tác giả đã dành hẳn một chương (28 trang) với tiêu đề Quan niệm sáng tác của Edgar Poe 5% là hứng khá ấn tượng gồm 4 nội dung chính: (1) Sự thực ở đâu? (2) Triết lý sáng tác của Edgar Poe. Bài thơ Con quạ. (3) Phê bình triết lý đó. (4) 5% là hứng. Trung thành với mục đích của Luyện văn, Nguyễn Hiến Lê đã giới thiệu hai kiệt tác này qua tiếng Việt, sau đó phân tích khách quan cái hay và hạn chế trong quan niệm, phương pháp sáng tác của Edgar Poe. Đây là bài dịch và phân tích đánh giá duy nhất về tiểu luận Philosophy of Composition trong suốt 2/3 thế kỉ dịch thuật tác phẩm của Poe. Việc phân tích cẩn trọng, khách quan đi từ khâu tìm hiểu nguyên tác, dịch nghĩa, rồi căn cứ vào văn bản, kết hợp liên hệ với cuộc đời nhà thơ, nhận định của những nhà phê bình Âu Mỹ khác (Jean Barangy, Le grand amour d’Edgar Poe, 1956), sau đó mới đưa ra những kiến giải chủ quan khiến cho ý kiến của Nguyễn Hiến Lê có một độ tin cậy, hợp lý cao như chính kiến thức và tên tuổi của ông.

2.2.2.3. Bên cạnh đó, tác phẩm của Poe còn được xuất bản ở dạng các sách song ngữ. Năm 1959, truyện trinh thám The Purloined Letter của Poe được Lưu Bằng dịch thành Lá thư mất trộm (The Stolen Letter). Năm 1965, bài thơ Eldorado xuất hiện dưới hình thức song ngữ trong Anh hoa thi ca Anh Mỹ thi tập loại đối ngữ do Hà Bỉnh Trung dịch, với tên là Xứ mộng cùng với 34 khuôn mặt tiêu biểu của thi ca Anh-Mỹ khác. Đây là bài thơ đầu tiên của Poe được dịch trực tiếp từ nguyên tác tiếng Anh. Thế nhưng những tư liệu Hà Bỉnh Trung thu thập được về cuộc đời của Poe chưa phản ánh đúng tiểu sử và con người Poe. Về bài thơ, bản dịch của Hà Bỉnh Trung khá tốt, có nhiều câu hay tuy chưa chú ý vần điệu và còn một số từ dùng chưa sát với nguyên tác. Ví dụ danh từ “knight” lẽ ra dịch “hiệp sĩ” chính xác hơn là “dũng sĩ”, hoặc cuộc hành trình vạn dăm cô đơn và gian khổ đi tìm hạnh phúc của chàng trai trẻ này không đơn giản là một chuyến “du lịch”, cũng như mục đích của chàng “In search Eldorado” không hẳn là tìm xứ mộng sang giàu vật chất mà mang ý nghĩa triết lý phải chăng con người luôn chạy theo những ảo vọng không bao giờ có được trong hành trình kiếm tìm hạnh phúc. Từ truyền thuyết El Dorado chuyển sang bài thơ Eldorado của Edgar Poe, ý nghĩa không còn chỉ dừng lại ở “mộng sang giàu” mà Hà Bỉnh Trung không dịch thoát ra được. Dịch giả Thái Bá Tân sau này (2000) có khắc phục bằng cách dịch câu trên thành “Chàng đi tìm Eldorado” chung chung hơn, nhưng gợi nhiều cách hiểu có tính triết lý của từ Eldorado hơn.

Từ đó, suốt trong hai mươi năm của giai đoạn này, kể cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt, sáng tác của Poe vẫn xuất hiện khá đều đặn, chủ yếu là các truyện ngắn của ông. Năm 1967, sáu truyện mà Lê Bá Kông cho là hay nhất của Poe tiếp tục được dịch từ tập truyện Six Stories by Edgar Allan Poe, trong đó có truyện William Wilson lần đầu tiên được giới thiệu. Dựa vào lời giới thiệu tập truyện của Lê Bá Kông, bỏ qua mục đích thương mại quảng cáo, có thể thấy Poe được đánh giá rấr cao “Ai đọc truyện của Edgar Poe cũng đều bị lôi cuốn một cách say sưa từ trang đầu đến trang cuối” (Lê Bá Kông, 1965). Có lẽ vì thế mà sau 10 truyện của Jack London được dịch và xuất bản năm 1963, Poe là tác giả được nhà xuất bản Ziên Hồng độc quyền giới thiệu thử nghiệm nhằm thăm dò thị hiếu của người đọc cho những ấn phẩm xuất bản tiếp theo “Loại truyện ngắn này, nếu được độc giả hoan nghênh chúng tôi sẽ dịch, xuất bản thêm để giới thiệu một số văn sĩ đại tài quốc tế khác.” (Lê Bá Kông, 1965). Thơ của Poe chỉ có hai bài được dịch trọn vẹn: The Raven, Eldorado và một số đoạn trích hai bài thơ To Helen, The Bells của Đắc Sơn trong giáo trình song ngữ dành cho sinh viên Cao đẳng.

2.2.2.4. Giai đoạn tiếp nhận thứ 2 này phản ánh sự bắc cầu từ ảnh hưởng của văn học Pháp, ngôn ngữ Pháp sang ngôn ngữ Anh và văn học Mỹ. Nếu bản dịch năm 1949, 1953 còn dịch từ tiếng Pháp thì đến bản dịch năm 1957 của Hoàng Lan tuy vẫn phiên âm tên nhân vật theo kiểu Hán Việt như hình thức bản dịch năm 1953, nhưng đã thấy chú thích tên nguyên tác The cask of Amontillado dưới tên tiếng Việt là Một vụ báo thù ghê gớm. Hiện tượng các bản in song ngữ cho thấy tiếng Anh đã phổ biến khá rộng rãi, nhiều người có thể đối chiếu so sánh giữa bản dịch và nguyên tác. Bản dịch của Lưu Bằng có chú thích từ vựng ở những từ khó sang tiếng Việt ngay dưới mỗi trang. Tuy nhiên, nhiều đoạn nguyên tác tiếng Anh đã bị lược bỏ, một số từ ngữ được thay thế cho rõ nghĩa, do đó các truyện của Poe trở nên đơn giản hơn nhiều so với cách diễn đạt cầu kì của Poe trong nguyên tác. Việc tiếp nhận Edgar Poe chủ yếu tập trung ở đội ngũ trí thức, giáo viên, sinh viên và ở các đô thị miền Nam với mục đích thực tế là luyện cách viết văn và trau dồi tiếng Anh chứ không thuần tính chất văn chương như giai đoạn đầu tiên Poe đến với văn học Việt Nam.

Căn cứ vào bức tranh dịch thuật giai đoạn này cũng có thể thấy việc tiếp nhận Poe ở miền Nam có một sự đứt quãng: suốt hai mươi năm 1967-1987 không có một tác phẩm nào của Poe được dịch hay tái bản. Lý giải hiện tượng này, nhìn toàn cảnh bức tranh dịch thuật ở miền Nam thì có vẻ người Sài Gòn đang có nhiều mối quan tâm khác trong một bối cảnh xã hội cũng đã hoàn toàn khác. Đây là những năm Mỹ bắt đầu cuộc leo thang chiến tranh ở hai miền Nam Bắc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân cả nước đang ở những năm tháng khốc liệt nhất. Phong trào đấu tranh văn hóa tư tưởng ở các đô thị miền Nam ngày càng trở nên sôi động với sự ra đời của Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc năm 1967. Chính sách xâm lăng văn hóa bằng cách du nhập ồ ạt văn học thế giới của Mỹ khiến cho thị trường văn học dịch hết sức xô bồ. Nhịp độ phát triển của sách dịch ngày càng mạnh chiếm tỉ lệ 60-80%, đến độ “ khuynh loát thị trường chữ nghĩa vùng đô thị” (Trần Hữu Tá, 2000, 20).

Tuy nhiên, vẫn có thể điểm một số tác phẩm có giá trị như của Lỗ Tấn, Léon Tolstoi, Dostoievski, Shakespeare, của nhà văn Mỹ chuyên viết về chủ đề Trung Quốc, đoạt giải Nobel năm 1938: Pearl Buck. Hoặc tiểu thuyết về chiến tranh của Hemingway cũng chiếm được công chúng rộng rãi bởi tinh thần phản chiến và ngợi ca giá trị con người trong tác phẩm của nhà văn có kĩ thuật sáng tác mới mẻ này. Thuyết hiện sinh, phi lý cũng tràn ngập trong các tiểu thuyết của các nhà văn Pháp như Albert Camus, J. Paul Sartre, hay kịch của Kafka, Ionesco. Rồi bản thể luận, siêu hình học của Heiderger, chủ nghĩa hư vô của Nietzche, phân tâm học của Freud…trở thành những vấn đề mới lạ, thu hút người đọc tìm đến. Những giấc mơ của Poe, những câu chuyện phiêu lưu viễn tưởng, nhà thám tử hào hoa Dupin… không còn là lựa chọn hàng đầu. Người đọc giai đoạn này có quá nhiều nỗi kinh ngạc bàng hoàng để bận tâm hơn. Cái chết phi lý ngay trước mắt khiến cho người ta không còn thì giờ để suy ngẫm, phân tích nỗi khiếp sợ về nó nữa. Người ta đang chạy trốn cái thế giới “Dịch hạch”* trong “Buồn nôn”*, người ta đang trở thành “Người xa lạ”*[1] với chính bản thân mình. “Con người phi lý không hy vọng, không ngày mai, không Thượng Đế” và cảm thấy “tự do bát ngát” vì hắn không cần hy vọng, ngày mai hay Thượng Đế.” (Thạch Chương, 1960, 78). Gạn đục khơi trong, Huỳnh Như Phương nhận định rằng “Chủ nghĩa hiện sinh là triết học của một thời đại không lặp lại. Việc tiếp nhận, vận dụng, truyền bá nó cũng là một “cơ duyên” của lịch sử. Nó đã đến trong cái bối cảnh bi đát của xã hội những năm 54-75, khi con người khao khát tự do và quyền sống, mong muốn suy tư về chính tự do và thân phận làm người” (Huỳnh Như Phương, 2008, 181). Đây cũng là một lựa chọn. Sự lựa chọn này có thể tự phát lẫn tự giác, nhưng đã thể hiện “tinh thần độc lập và tự trọng của người trí thức” trong một hoàn cảnh lịch sử nghiệt ngã của dân tộc.

Chứng kiến những thác loạn, hỗn mang, đau thương nhất của thế kỉ, nên những bi kịch đất nước chia cắt, chiến tranh thảm khốc, bom đạn tàn phá, thân phận và tình yêu con người trước cái vô nghĩa của cuộc sống… đã trở thành những đề tài dữ dội chi phối tư duy và mọi sinh hoạt văn học nghệ thuật ở các đô thị miền Nam.

 

2.2.3. Sự vắng bóng ở miền Bắc

2.2.3.1. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, chủ nghĩa xã hội đã được bắt tay xây dựng ngay những năm đầu khó khăn của đất nước. Cuộc sống mới, thể chế mới đã bắt mạch với một sức sống mới là văn học Nga-Xô viết mà đại biểu của nó là dòng văn học hiện thực với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa của Maxim Gorki, Tchekhov…Léon Tolstoi, Dostoievski tuy có dè dặt hơn nhưng vẫn được yêu thích. Việc dịch thuật các tác phẩm tinh hoa văn học thế giới có được chú trọng, có nhiều bản thảo hay nhưng các nhà xuất bản vấp phải vấn đề tiên quyết: “Làm sao cho những tác phẩm dịch ấy có thể đáp ứng với những yêu cầu về chính trị tư tưởng của nước ta, trong cuộc chiến đấu quyết liệt chống Mỹ cứu nước này? ” (Như Phong, 1994, 335).  Vì vậy, đối với văn học Mỹ, giai đoạn này, có lẽ do nhu cầu phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ nên ưu tiên cho những tác phẩm tiến bộ, có tính đấu tranh giai cấp. Tuy còn “lẻ tẻ và tự phát (…) chưa đi sâu vào những vấn đề thi pháp hoặc nghệ thuật.” (Mai Hương, Nguyễn Thị Huế, 208) nhưng văn học hiện thực tiến bộ Mỹ vẫn hiện diện trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt cả ở hai miền Nam – Bắc.

2.2.3.2. Hiện tượng Edgar Poe hoàn toàn vắng bóng trên văn đàn miền Bắc trong suốt những thập kỉ 50, 60,70, và hơn nửa thập kỉ 80 cũng là một thực tế cho thấy việc tiếp nhận văn học không chỉ dừng lại ở bản thân tác phẩm văn học hay hay dở hoặc những yêu thích cá nhân đồng thanh đồng khí nữa mà còn được đặt trong môi trường lịch sử, kinh tế, chính trị của toàn xã hội, trước vận mệnh sống còn của cả đất nước, dân tộc. Nghĩa là tuy không dịch Poe, không viết về Poe nữa nhưng không có nghĩa là những người từng tiếp nhận Poe ở giai đoạn trước như Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Giang, Vũ Ngọc Phan… đã hết yêu Poe.

Điều này, xét về mặt lý luận, chúng tôi rất tâm đắc với ý kiến của tác giả Huỳnh Vân: “tầm đón đợi văn học không nên và không thể chỉ giới hạn trong văn học mà không xem xét đến các lĩnh vực khác ngoài văn học như “tư tưởng, chính trị, xã hội, tâm lý, đạo đức…” Bởi hai lẽ: “người ta đọc, hiểu và đánh giá một tác phẩm không chỉ với vốn kiến thức có sẵn về văn học và người đọc không thể nào là một công chúng chung chung, một người đọc lý tưởng, một người đọc thoát ra khỏi những quy định về mặt xã hội, tầng lớp, thành phần, giới tính, lứa tuổi…”. (H.Vân, 2009, 68). Những sự kiện lớn lao của đất nước trong những năm tháng của giai đoạn thứ hai này, từ chiến tranh đến hòa bình, từ bị xâm lược đến giải phóng, nô lệ đến độc lập, chia cắt đến thống nhất, từ nước mắt đến nụ cười…và cả những ngộ nhận, đối đầu về tư tưởng chính trị, thể chế…đã tác động mãnh liệt đến đời sống dân tộc, phản ánh khá rõ nét trong bức tranh dịch thuật văn học thế giới, văn học Mỹ nói chung và Edgar Poe nói riêng.

 

  • Giai đoạn thứ 3 (từ 1987 đến nay): con đường trực tiếp – chủ động trên phạm vi cả nước.

Đây là giai đoạn mang tính chất bản lề đánh dấu hai mốc trở lại của Edgar Poe ở Việt Nam. Mười lăm năm dò dẫm tìm lại độc giả cuối thế kỉ XX (1987-2001) và “bùng nổ” của bảy năm đầu thế kỉ XXI (2002-2009).

sgu

  • Con số 4 bài thơ, 1 tiểu luận và 136 lượt dịch, 27 lần xuất bản chỉ trong 22 năm, trong đó có 30 truyện dịch lần đầu tiên của giai đoạn thứ ba này so với con số ít ỏi của các giai đoạn trước có một ý nghĩa không đơn giản trong quá trình tiếp nhận Edgar Poe ở Việt Nam. Năm 1986, công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế đã mở ra một con đường mới cho tất cả các lĩnh vực nhất là kinh tế, chính trị, xã hội và đi theo những thay đổi ấy là kiến trúc thượng tầng của nó: văn hóa, văn học. Năm 1987, Con cánh cam vàng do N.H Việt Tiến dịch, kèm theo tranh minh họa của Huy Toàn đã mở đầu “sự trở lại của Edgar Poe’ đầy ngoạn mục những năm đầu thế kỉ XXI. Việc một nhà xuất bản chuyên in sách cho thiếu niên nhi đồng như nhà xuất bản Kim Đồng giới thiệu Edgar Poe cũng là một hiện tượng thú vị. Đối tượng tiếp nhận Edgar Poe lần đầu tiên là các em thiếu niên cho thấy quan điểm đánh giá Edgar Poe có sự thay đổi. Xu hướng “gạn đục khơi trong” của lý luận văn học khi đánh giá các tác phẩm trong quá khứ được đông đảo nhà nghiên cứu, nhà văn, dịch giả hưởng ứng.

Sự chọn lọc này đã giúp Poe được chú ý trở lại bằng hai tập truyện năm 1988, 1989 của nhà thơ Đào Xuân Quý và dịch giả Hoàng Văn Quang do Hội văn học nghệ thuật Phú Khánh Thuận Hải, Quảng Nam-Đà Nẵng xuất bản. Một sự kiện đặc biệt đánh dấu vị trí của Edgar Poe trong lòng người đọc Việt Nam là Tuyển tập Edgar Allan Poe dày 716 trang do Ngô Tự Lập và nhóm Địa cầu văn hóa tuyển dịch gồm 40 truyện ngắn của Poe xuất hiện năm 2002. Chúng tôi coi đây là một bước nhảy vọt trong quá trình tiếp nhận Edgar Poe. Có lẽ, trong lịch sử dịch thuật của văn học Mỹ ở Việt Nam, ngoài Pearl Buck, Hemingway, chưa có tác giả nào có vinh dự được giới thiệu thành một tuyển tập hoành tráng như vậy với một đội ngũ dịch giả hùng hậu 15 người, trong đó có những nhà văn, nhà giáo có trình độ chuyên môn sâu và ngoại ngữ uyên bác. Hai mươi bốn truyện dịch lần đầu tiên của Poe trong tổng số bốn mươi truyện đã mở ra một thế giới huyễn tưởng kì lạ đến kinh ngạc, một thế giới quái dị, khủng khiếp nhưng đa dạng bí hiểm, dắt người đọc đến tận cùng nỗi khiếp sợ và tận cùng chiều sâu tâm linh của con người. Tuy nhiên, cũng chính qua tập truyện này, chúng ta thấy quả hiểu được những truyện của Poe là điều không đơn giản. Bản thân một số truyện của Poe mang tính huyễn tưởng, khó hiểu, đầy triết lý sâu xa, mang nhiều ý nghĩa hàm ẩn không phải là loại truyện đọc một mạch để giải trí như lý thuyết truyện ngắn của chính Edgar Poe đề ra. Một số bản dịch còn mang tính hàn lâm khiến truyện đã khó hiểu lại càng khó đọc.

2.3.2. Từ dấu mốc 2002 đến nay, theo số liệu thống kê tác phẩm đã dịch, qua các tên truyện, có lẽ chúng ta có thể dễ dàng nhận ra những truyện “ăn khách” của Poe vẫn không ngừng được xuất bản. Đứng đầu các truyện được dịch và liên tục tái bản của Poe qua gần một thế kỉ vẫn là Con cánh cam vàng, Con mèo đen, Cái thùng Amontillado, Trái tim thú tội…Tiếc là mảng thơ và nhất là lý luận phê bình rất có giá trị của Edgar Poe vẫn còn quá ít, chưa được quan tâm dịch và giới thiệu, nghiên cứu. Điều này tạo nên một sự mất cân đối trong việc dịch thuật Edgar Poe ở Việt Nam. Suy cho cùng, đó cũng là quy luật của sự tiếp nhận những yếu tố ngoại lai của văn học Việt Nam. Người Việt vốn có óc thực tế, giản dị, không thích những gì quá siêu hình trừu tượng, cầu kì phức tạp. Những gì quá xa lạ với đời sống văn hóa truyền thống và thẩm mỹ đạo đức của dân tộc tự nó không thể dung hòa được với các yếu tố nội sinh của dân tộc để bén rễ vào tâm hồn người đọc.

Đến nay, nhiều tỉnh thành trong cả nước đã in tác phẩm của Poe. Việc tiếp nhận Poe đã mở rộng phạm vi cả nước, không còn gói hẹp trong hai đô thị Hà Nội, Sài Gòn như trước nữa. Nhiều nhà văn bắt đầu khai thác yếu tố kì ảocái fantastic trong truyện ngắn của Poe. Truyện ngắn đương đại Việt Nam đang đi vào một cơn sốt thể loại truyện kì ảo hoặc có yếu tố kì ảo. Theo thống kê chưa đầy đủ, đến năm 2001, đã có gần 70 nhà văn và khoảng 150 truyện kì ảo ra đời. Hiện tượng này khiến độc giả nhớ tới Edgar Poe. Còn các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình thì đặc biệt nghiên cứu những ảnh hưởng của tác giả này trên nhiều mặt một cách hệ thống đầy đủ hơn để bổ sung cho những khiếm khuyết trong nghiên cứu về văn học Mỹ. Và thú vị hơn nữa, ở một loại hình khó tiếp cận như thơ, cũng có thể tìm được những bản dịch rải rác trên nhiều trang web văn học. Tập trung nhiều nhất là ở thivien.net với mười hai bài thơ trong đó có chín bài lần đầu tiên xuất hiện bằng tiếng Việt. Dù chỉ mới được đưa lên mạng từ tháng 4-4-2008, Poe đã có 482 lượt độc giả và nằm trong top 10 nhà thơ Mỹ được đọc nhiều nhất trên trang web này. Điều đó chứng tỏ nhà thơ của chúng ta không còn cô độc nữa.

 

  1. Kết luận

3.1. Nhìn lại hành trình 2/3 thế kỉ dịch thuật tác phẩm, ba giai đoạn tiếp nhận Edgar Poe có ba đặc điểm khác nhau, xuất phát từ thực tế của lịch sử xã hội và những nhu cầu nội tại của văn học Việt Nam, có thể thấy đầu thế kỉ XXI đang báo hiệu sự trở lại của Edgar Poe. Cho đến nay, cái tên Edgar Allan Poe trên sách báo và những trang web tiếng Việt không còn là điều hiếm hoi nữa. Điều mà mới 5 năm trước đây hầu như không thể nào làm được. Những thông tin, tài liệu về Poe chỉ có bằng tiếng Anh tại các website của các trường Đại học Mỹ Baltimore, Virginia… và Poe Studied Association. Hiện nay, ở Việt Nam, giới nghiên cứu văn học vẫn tiếp tục đi tìm cách giải mã “câu đố Edgar Poe”. Truyện ngắn của Poe vẫn tiếp tục xuất hiện trong nhiều tuyển tập. Thơ Edgar Poe được giới thiệu nhiều hơn dù vẫn còn rải rác (trên các website văn học, các trang web cá nhân). Tình yêu và niềm đồng cảm đối với Edgar Poe hình như cũng theo tỉ lệ thuận của những trang tiếng Việt viết về ông đang ngày càng nhiều hơn trong đời sống văn học Việt Nam. Điều gì khiến người ta trở lại yêu thích Edgar Poe? Có lẽ trước tiên là do chính bản thân sức hấp dẫn kì diệu của những câu chuyện chết chóc nhưng đầy tính nhân văn mà không ai có thể không suy ngẫm mỗi khi đọc Edgar Poe. Và nỗi sợ hãi trong các truyện kinh dị của Poe đã giúp con người đối diện với chính mình, thôi thúc họ khám phá và vượt lên chính nỗi sợ hãi của bản thân mình.

3.2. Nỗi ám ảnh Edgar Poe đang dần biến thành một nhu cầu thôi thúc đến với thiên tài độc đáo này. Mảng trắng cần quan tâm hiện nay chính là ở phần thơ và lý luận sáng tác của ông. Bởi không thể nào không nhận thấy dấu vết của Poe đối với thơ văn Việt Nam trước đây và hiện nay cũng như tương lai sắp tới của văn học Việt Nam. Theo công ước Brene về luật sở hữu trí tuệ, bản quyền của tác giả còn có hiệu lực sau khi mất năm mươi năm. Edgar Poe đã ra đi đúng 160 năm, do đó, văn chương của ông đã trở thành tài sản vô giá của nhân loại. Nói như Phạm Quỳnh “Văn chương có giá trị, văn chương thật bất hủ là kể từ cái hạn năm mươi năm này mới có thể định luận được. Nhà văn nào qua được cái “hạn’ này mà hậu thế còn đọc đến sách vở mới có thể mong liệt vào hạng bất tử được.” (Phạm Quỳnh, 1917, 381). Văn chương của Poe đã và đang tồn tại gấp ba lần cái hạn năm mươi năm đó. Jorges Louis Borges – nhà văn người Argentina – từng khâm phục: “Edgar Poe để lại nhiều cái bóng khác nhau. Chúng ta thừa hưởng biết bao nhiêu kho báu từ con người kì lạ ấy. Có hai người mà thiếu họ văn học hiện đại không như nó tồn tại. Hai người đó đều là người Mỹ và cùng sống vào thế kỉ trước: Walt Whitman (…) và Edgar Poe” (Ngô Tự Lập, 692, 693).

Sài Gòn, 9.2009                                    

Hoàng Kim Oanh

                                              

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Phạm Đình Ân tuyển chọn. 2006. Thế Lữ, Về tác gia và tác phẩm. H: Nxb Giáo dục.
  2. Thạch Chương. 1960. Albert Camus. S: Tạp chí Sáng tạo, bộ mới, số 3, ra ngày 1-9-1960.
  3. Nguyễn Giang .1936. Danh văn Âu Mỹ. H: Imprimerie D’Extrême-Orient.
  4. Ngô Tự Lập (tuyển chọn) .2002. Tuyển tập Truyện ngắn Edgar Poe. H: Nxb.Văn học.
  5. Nguyễn Hiến Lê. 1957. Luyện văn II. S: Nxb Nguyễn Hiến Lê.
  6. Hữu Ngọc. 2000. Hồ sơ văn hoá Mỹ. H: Nxb. Thế giới.
  7. Nhiều tác giả. 1997. Văn học Mỹ, quá khứ và hiện tại. H: Trung tâm KHXH& NVQG, Viện TTKHXH.
  8. Vũ Ngọc Phan.2008. Vũ Ngọc Phan tuyển tập. Tập IV. Bút ký, hồi ký và những trang viết khác. H: Nxb Văn học.
  9. Phạm Quỳnh (2003), Luận giải văn học và Triết học, H: Nxb. Văn hóa thông tin.
  10. Trần Hữu Tá. 2000. Nhìn lại một chặng đường văn học. HCM: Nxb Thành phố.
  11. Hoài Thanh- Hoài Chân .1997. Thi nhân Việt Nam. H: Nxb. Văn học .
  12. Thúy Toàn.1996. Dịch văn học và Văn học dịch. H: Nxb. Văn họ
  13. Huỳnh Vân. 2009. Vấn đề Tầm đón đợi và xác định tính nghệ thuật trong mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss. Hà Nội: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 3 (445), trang 55- 71
  14. Wada, Gunilla Lindberg .2006. Literary History: Towards a Global Perspective, Publisher: Walter de Gruyter, trang 172-173
  15. Các tập truyện dịch của Edgar Poe

 

ABSTRACT

 

       Edgar Allan Poe (1809-1849) was the frist American writer who entered Vietnamese Literary since the early twentieth century. Through the translation of Poe‘s works, his way to Vietnamese Literature can be divided into three phases with three different characteristics. During nearly a century until now, his compositions have always been present in Vietnamese Literary panorama picture. “Edgar Poe obsession” is now so huge that it is becoming a need for every reader to learn about him. Two hundred years passed, Edgar Poe ‘s works are not only a possession of American Literature but also “a precious thing” of mankind, including Vietnam.

 

[1]* Tên các tác phẩm của A. Camus và J. Sartre.

Đăng tải tại Edgar Allan Poe in Viet Nam, Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

65. TRĂNG KHUYẾT

 

IMG_5217

Trăng non
vuớng trên song cửa
hương đêm qua.

Chiếc gối trống
con để lại
cả mùa trăng.

Sách vẫn trên bàn
ngọn đèn vàng
đêm nay không sáng.

Vũ trụ không cùng
vòng tay trống
rộng đường bay.

1:00am
30.7.17

Đăng tải tại My Poetry | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

64. LỜI RU NÀO CHO CON ĐÊM NAY

 

Lời ru nào cho con đêm nay?

Câu ca dao cánh cò trong cổ tích…?

Bàn tay mẹ bỗng vụng về lẩn thẩn

Xếp vào rồi lại dở áo ra xem…

 

Đêm đầy trăng chẳng còn thiết đầy vơi

Lòng chếnh vếnh sợ đêm tàn quá vội

Thành phố nào một mình con sẽ đứng đi ăn ngủ?

Vui buồn nào một mình con sẽ khóc sẽ cười?

 

Ngủ đi con đêm cuối ở nhà mình

Bao đêm tới chỉ còn giường chiếu lạnh

Con bước đi có khi nào nhìn lại

Một chỗ nằm…con đã ngủ… 20 năm?

 

30.7.2015

1.51 am

Đăng tải tại My Poetry | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

63. BÂNG KHUÂNG CHIỀU BA MƯƠI

nu hoa_SP

Em đến thăm anh đêm ba mươi

Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi

Anh nói với người phu quét đường

Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em…

 

Bài hát dường như tôi đã hát không biết bao nhiêu trăm lần, ngàn lần từ ngày Vũ Thành An khai sinh ca khúc này 25 năm trước, 1991 đến nay, mà vẫn bồi hồi mỗi năm khi ở khoảnh khắc chiều ba mươi cho đến phút giao thừa. Bởi nó dịu dàng âu yếm quá. Bởi nó bâng khuâng quá một miền kí ức đẹp thời con gái đã xa…chỉ có chiếc lá vàng làm chứng. Cái gì trên đời này cũng vậy, chỉ khi sắp mất đi, khi không còn có nó nữa, người ta mới giật mình tiếc nuối, mới vội vã níu kéo…Chiều 30 cứ vậy mà đáng yêu, đáng tiếc nuối nhất, đáng đợi chờ nhất… Và bây giờ, hay bao giờ, chiếc lá vàng ấy vẫn lung linh…

Năm cũ đang qua. Năm mới đang tới. Sự chờ đợi nào cũng đầy hạnh phúc.

Với tôi, mùa xuân chỉ có mỗi ngày ba mươi. Mồng 1 thủ tục cúng kiến, mừng tuổi, chúc thọ ông bà, anh chị em trong nhà chúc phúc lẫn nhau, mong mọi điều tốt đẹp cho nhau xong…, uống với nhau chén rượu, ăn với nhau bữa cơm đầu năm…Thế là xong. Thế là hết Tết.

Với tôi, một năm, giây phút đáng nhớ nhất, đáng chờ đợi nhất chỉ có chiều ba mươi, đêm ba mươi thiêng liêng thần thánh đó.

Tết đang xôn xao từng góc phố, từng nẻo đường của thành phố…

Tết đang chạm vào từng nhà, từng người.

Tết đang hối hả từng khuôn mặt, tất bật từng dáng đi…

Trong cái ồn ào náo nhiệt ấy sao tôi cứ nhớ về một chiều ba mươi năm cũ…Mới đây thôi, năm ngoái…

Hình như là khoảng 5h chiều. Mặt trời chưa tắt hết nhưng cũng đủ tà dương chập choạng mặt người. Anh Đoàn Văn Khánh gọi tôi: “Em ra nhà thờ Đức Bà được không? Có anh Nguyên Minh, anh Nữu và anh chờ nè. Café. Chạy ra được không?

Một phút đắn đo. Ba mươi hai năm lấy chồng, hai mươi năm trở về thành phố đến giờ, tôi chưa từng café chiều 30. Có chăng là lui cui nồi nồi xoong xoong bếp núc buổi chợ sáng 30 cuối cùng đủ thiếu món này món nọ… Có chăng là lau chùi dọn dẹp trang hoàng nhà nhà cửa cửa…Có khi tới khi pháo bông đì đoàng báo hiệu năm mới bắt đầu tôi vẫn còn loay hoay cắm lại bình bông kệ sách hay bàn ăn. Bàn thờ gia tiên và ông địa, ông thần tài thì đã lo đâu vào đấy trước khi cúng rước ông bà trưa ba mươi tết. Nào mâm ngũ quả cầu – dừa – đủ -xài – sung, nào vạn thọ chúc phúc cho người già, nào cát tường cho đầu năm may mắn, Lay-ơn đỏ cắm bàn thờ cho rực rỡ, Lys trắng tím hồng thơm thơm cho bàn ăn, mấy nụ hồng vàng cho bàn viết…

Năm nay tôi sẽ đặt thêm một bình thạch thảo chỗ kệ sách mới đóng…

Năm nay, lần đầu tiên con trai đi học xa không ăn Tết ở nhà. Thôi thì giản tiện chút nào hay chút nấy cho đỡ cực. Không có nó, chẳng ai lau lá ổi cho mẹ gói nem kiểu Quế Sơn nạc vai thái lát ướp riềng tiêu tỏi, muối hột hầm nổ kêu lóc bóc giã mịn nướng ăn kèm bánh tráng; chẳng có ai kì kèo dưa món nhà làm dòn cay ngọt mặn vừa phải ăn bánh tét bà nội gói mới ngon mẹ ơi…; chẳng có ai giao thừa xong cùng mẹ về nhà chúc Tết ông bà ngoại.

Năm nay, nhà mình lần đầu ăn tết không có ông ngoại…

Năm nay, lần đầu, nhà mình đón năm mới không có con.

Ôi, kí ức chiều ba mươi cứ thế mà tuôn trào…

Một phút đắn đo…

  • Dạ, em ra. Một chút chắc được.

Tôi muốn tặng mỗi anh vài búp trà sen đặc biệt Viên Trân vừa gửi đến. Tôi muốn gửi mấy anh nước mắm Phú Quốc Kiên Giang đượm nồng hương biển…

Chiều ba mươi, Sài Gòn phố phường thênh thang. Người tứ xứ đã về cố quận vui đón xuân bên bếp lửa gia đình. Người Sài Gòn chánh cống không đi chơi xa thì bận rộn bao lo toan cho ngày đầu năm mới mọi thứ viên mãn tốt lành.

Quán café đối diện nhà thờ Đức Bà dừng như toàn khách Tây. Ai cũng thong dong, thư thả…ngược hẳn cái tất bật đông đúc ồn ào chen chúc khuân khuân vác vác mua mua bán bán ở các khu dân cư, đặc biệt là các chợ của Sài Gòn. Chúng tôi nhìn quanh quất, Vietnamese hình như chỉ có mấy anh em nhà Quán Văn ngẫu hứng du xuân đột xuất chúng tôi. Bốn anh em mừng vui tíu tít đôi câu. Mỗi người gọi một thức uống. Chẳng hẹn mà tất cả đều gọi crème Chocolate. Món ruột của tôi. Anh Minh cũng vậy… Cuối năm, có lẽ để nhớ chút ngọt ngào…

Bóng chiều cứ thế từ từ buông.

Có cái gì xôn xao khó tả.

Tự nhiên tất cả đều lặng im.

Phá vỡ phút trầm tư ấy, anh Nguyễn Minh Nữu hỏi thăm về con trai tôi đang đi học xa. Bỗng dưng tôi bật khóc. Mẹ thì nhớ thì mong, có khi chỉ nghĩ đến con phương xa một mình nước mắt đã rơi, vậy mà nó email về, lạnh lùng: “Mẹ cứ vui, cứ sống cuộc sống của mẹ, đừng ủy mị như thế…Không lẽ mẹ của con lại tẻ nhạt như thế ư? Con ổn.”

Anh cũng chia sẻ chuyện con cái và cha mẹ già ở phương Tây nói chung và chuyện con cái của anh sau khi kể câu chuyện cảm động về đứa con bị thương tật tàn phế cả 4 chi sau chiến tranh, khi trở về gọi điện báo con sẽ về đón năm mới cùng bố mẹ với một người bạn tàn phế đôi chân. Mẹ anh đã từ chối người bạn tàn phế ấy. Linh tính…ngay sau cú điện thoại ấy, bố mẹ anh chạy ngay đến khách sạn con ở. Trời ơi, một người lính mất cả chân tay vừa từ tầng cao nhất của khách sạn lao xuống tự vẫn. Con ơi. Sao con không nói đó là con. Dù con như thế nào, lành lặn hay mất hết tứ chi, con vẫn là con của mẹ. Thông điệp mà anh chia sẻ: Hãy nói cho con biết, lúc nào bố mẹ cũng bên con và yêu thương con cho đến hơi thở cuối cùng…

Đoàn Văn Khánh thì trầm tư trong nụ cười…Ừ, năm mới chắc anh cưới dzợ.

Chỉ có anh Nguyên Minh vẫn lặng lẽ nhìn nóc giáo đường. Phố đã bắt đầu lên đèn. Đôi mắt anh đầy tư lự chìm lẫn trong bóng hoàng hôn chập choạng…

Mỗi người hỏi một câu, câu chuyện café chiều 30 bỗng xoay quanh cuộc phỏng vấn bỏ túi chủ biên Quán Văn.

H: Sao đến tuổi cổ lai hy rồi anh lại chủ trương thực hiện Tập san Quán Văn?

NM: Văn chương là liều thuốc hồi sinh của anh. Nếu không làm là anh chết. Buồn mà chết.

H: Trong tất cả các số Quán Văn đã ra mắt, số nào anh không ưng ý nhất? Và số nào anh ưng ý nhất? Vì sao?

NM: Không có số nào anh không thích. Số nào anh cũng làm bằng tất cả trái tim, dồn vào đó tất cả tâm tình của anh với văn chương, với bè bạn cũ mới, trước sau… Nhưng, cũng không có số nào mà anh ưng ý hết…

H: Có người nói Quán Văn là sự tiếp nối của Ý Thức trước đây, có đúng vậy không?

NM: Không đúng. Nhiều anh em vẫn nhầm lẫn điều này. Ý Thức là của một nhóm anh em cùng họp lại làm báo. Sau 1975, Ý Thức tan hàng. Do Ý Thức và Quán Văn đều xuất từ cái nôi ngôi nhà của Nguyên Minh nên nhiều người vẫn nghĩ như thế. Khi làm Ý Thức lúc ấy chủ trương rất rõ ràng chống viễn mơ, chống chiến tranh, nhìn thẳng vào thực tế…đến nỗi còn bị gắn vào cái tội phản chiến, thân Cộng…đủ thứ chuyện. Nhưng rồi chính Cộng cũng không chịu, người ta đang đánh nhau mà phản chiến, mà văn chương văn chiếc sướt mướt nỗi gì? Còn Quán Văn nhiều lần anh đã nói, hai chủ trương hoàn toàn khác. Chủ trương của Quán Văn chỉ là nơi tập họp những người đam mê văn chương, không phân biệt tuổi tác, vùng miền, mở rộng đón nhận tất cả những cái hay cái đẹp của văn chương. Bởi nói đến văn chương thì phải nói đến Chân, Thiện, Mỹ.

H: Theo dõi 10 số đầu của Quán Văn, em thấy chủ đề chính của 10 số ấy gần như là những hoài niệm, những kí ức về một thời đã qua, số tác giả cũng không nhiều, dường như chỉ trong vòng thân hữu lâu nay của anh.

NM: Đúng. 10 số đầu thực sự Quán Văn vẫn chưa có nhiều cộng tác viên. Bài vở mới cũng chưa có. Người viết cũ thì tất nhiên nhớ về quá khứ là chính. Người viết mới thì như em đó, vẫn còn dè dặt, chưa hiểu hết chủ trương đường lối của Quán Văn…Đành phải lấy lại những bài viết cũ…Chọn lọc sao cho phù hợp với chủ trương của mình lẫn sự kiểm duyệt của nhà xuất bản. Cứ như làm xiếc giữa hai bờ…Vậy mà rồi sau 10 số đó, Quán Văn ngày càng đông vui, trong Nam ngoài Bắc, trong nước ngoài nước…anh em khắp nơi đã tìm về…không phân biệt địa vị, quan niệm riêng mỗi cá nhân, miễn thực hiện được tiêu chí Chân Thiện Mỹ của văn chương…

H: Chủ trương tập san Quán Văn, từ số đầu tiên đến nay đã bước sang năm thứ 5, anh mong muốn gửi gấm điều gì?

NM: Em về đọc Ngôi nhà số 11 của anh. Có một câu chuyện thật mà anh đã viết trong đó, gần như là tất cả tâm tư của anh. Anh kể em nghe, gia đình anh có một ông anh đi theo Việt Minh, sau đó tập kết ngoài Bắc. Mẹ anh trước khi mất có để lại một gia tài niêm kín trong một hộc tủ. Nhưng Mẹ dặn không đứa nào được mở, chỉ khi nào hòa bình, người anh đi tập kết trở về mới được mở hộc tủ ấy ra và giao lại cho anh ấy. Anh tò mò, mong đợi đến ngày hòa bình để được mở cái gia tài đó của mẹ. Hòa bình, ông anh của anh trở về. Đúng lời mẹ dặn, tụi anh mở hộc tủ gia tài của mẹ ấy ra. Em biết không, không có châu báu bạc vàng gì hết như ông anh của anh nghĩ…mà là một tập nhạc chép tay, chữ nắn nót rất đẹp…của ông anh anh để lại trước khi đi theo Việt Minh. Những bài hát tiền chiến như Con thuyền không bến, Đêm đông, Suối mơ…có hình một người con gái và hình ông anh của anh thời đi học.

Nhưng chính ông anh của anh lại vứt cuốn vở đó đi. Ông nói mẹ lẩm cẩm, giữ làm gì mấy cái thứ văn hóa phẩm phản động đồi trụy này. Nhìn ổng quăng cuốn vở mẹ anh gìn giữ như một gia tài cả đời bà, anh có cảm giác như ảnh đã quăng chính mẹ của mình. Chịu không nổi. Tình cảm mẹ anh dành cho ảnh như vậy mà ảnh đối xử như vậy…

Nhưng rồi chính khi ổng bệnh sắp chết. Ổng lại hỏi anh:

  • Minh ơi, em ơi, cái đó đâu rồi em?
  • Cái đó nào?
  • Cuốn vở chép nhạc mẹ giữ cho anh.

Trước khi mất, anh lại muốn nghe lại Đêm đông, nghe lại Con thuyền không bến…

Đời người có lúc ngộ nhận những giá trị đích thực của cuộc sống, mờ mờ nhân ảnh…Chỉ khi đối mặt với cái chết, con người mới ngộ ra điều gì là quý giá nhất.

Tâm tư của anh khi làm Quán Văn cũng vậy. Như mẹ anh. Như tâm huyết bao nhiêu bạn bè thế – hệ – mất – mát của anh.  Cố gắng mượn văn chương để gìn giữ những gì được gọi là nhân bản, nhân văn…

H: Vậy anh làm Quán Văn, miệt mài ngày đêm, huy động cả gia đình từ vật chất lẫn tinh thần để làm Quán Văn, anh…thấy mình được gì?

NM: Anh được một gia đình. GIA ĐÌNH QUÁN VĂN.

Vâng. Một gia đình.

Cảm ơn anh cả Nguyên Minh, người nhen ngọn lửa nhân văn cần mẫn, đam mê và cung kính trước Cái Đẹp văn chương như một tín đồ sùng bái nhất…

Tối 30. Phố đã lên đèn. Bao nhiêu hoa thật hoa giả đang khoe hết sắc hương lung linh chào đêm trừ tịch.

Chia tay các anh chiều 30 ấy, lòng ấm áp dạt dào một tình yêu rất đẹp. GIA ĐÌNH QUÁN VĂN của tôi…

Nghiêng cành xuân, hoa xuân đã nở.

Ngoài kia, gió xuân mơn man…

Giây phút thiêng liêng của đất trời đêm trừ tịch, cầu xin một năm mới an lành, chan chứa yêu thương và mọi điều tốt đẹp nhất sẽ đến với mọi người.

Ngoài kia, xuân đã về…

 

Đinh Dậu, 2017

HKO

(Bài đăng trên Tập san VHNT Quán Văn Xuân Đinh Dậu 2017, tr.21-26)

Đăng tải tại My Works | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

62. TẢN MẠN VỚI WILLIAM SHAKESPEARE…

Nếu Shakespeare vĩ đại thì đó là Hamlet. (Lermontov)

William-Shakespeare
William Shakespeare (1564-1616), làm lễ rửa tội ngày 26 tháng 4, sinh ngày 23.4.1564, mất ngày 23.4.1616- được coi là nhà văn vĩ đại nhất của Anh và là nhà viết kịch đi trước thời đại. Ông cũng được vinh danh là nhà thơ tiêu biểu của nước Anh và là “Nhà thơ của Avon” (Avon là quê của Shakespeare, viết tắt của Stratford-upon-Avon). Gia tài nghệ thuật của ông bao gồm 38 vở kịch,154 bài sonnet, 2 bản thơ tường thuật dài, và vài bài thơ ngắn. Những vở kịch của ông đã được dịch ra rất nhiều ngôn ngữ lớn và được trình diễn nhiều hơn bất kì nhà viết kịch nào.
William Shakespeare cũng là một trong những nhà văn hóa vĩ đại nhất của nhân loại. Từ lâu, sáng tác của ông đã vượt ra ngoài phạm vi nước Anh để trở thành tài sản chung của thế giới, thành gia tài quý báu nhất của nghệ thuật kịch thế giới. Môt trong những lời nhận xét được lặp đi lặp lại nhiều  nhất – về việc điều gì đã làm cho Shakesspeare vĩ đại  – là  ông thủ đắc một kho từ vựng khổng lồ và một khả năng độc nhất vô nhị trong việc sử dụng những từ ngữ nói về đồng tiền. Người ta ước lượng Shakespeare sở hữu từ 20 ngàn đến 30 ngàn từ. Cho đến gần đây, thậm chí một số học giả nổi tiếng và  có ảnh hưởng như Stanley Wells cũng tán đồng huyền thoại này.  “Shakespeare sử dụng một lượng từ ngữ nhiều đến mức lạ thường”, ông Wells nói hồi năm 2003, “Nhiều từ ngữ trong số này mới so với ngôn ngữ chung đương thời”. (Đặng Ngọc Hùng).
Song, có lẽ cái làm nên sự bất tử của thiên tài này chính là những bài tụng ca về vẻ đẹp con người, giá trị địch thực của con người. Không phải dòng dõi cao quý vua chúa hay quý tộc. Không phải địa vị sang hèn trong xã hội nhiều đẳng cấp. Cũng không dựa vào của cải vàng bạc mà con người có thể thâu tóm bởi lòng tham hay mánh khóe lọc lừa. Chính con người và vẻ đẹp của con người. Chính con người và những phẩm chất cao quý của con người đã làm nên giá trị của hai tiếng thiêng liêng ấy. Tác phẩm của ông, con người ông, cho đến nay vẫn là một huyền thoại đầy những bài học triết luận sâu sắc đề cao giá trị cao quý và đẹp đẽ của con người mang tính thời đại mà ngày nay chúng ta vẫn cần soi rọi mỗi khi tìm kiếm vẻ đẹp đích thực của con người…

Ôi tình yêu. Tình yêu đích thực là tình yêu trong tác phẩm của Shakespeare còn nâng tâm hồn chúng ta thăng hoa cùng cái đẹp dẫu Cái Đẹp bao giờ cũng đi qua những đau đớn, nghiệt ngã và bị hủy hoại không thương tiếc bởi những thế lực bạo tàn…. Còn gì đẹp hơn mối tình vượt lên trên mọi ràng buộc đẳng cấp, màu da của Othello và Desdemona trong bi kịch Othello. Chàng dũng tướng da đen tài ba của Cộng hòa Venice chấp nhận mọi điều kiện của Nguyên lão nghị viện Brabantio để được kết hôn cùng con gái ông, Desdemona xinh đẹp, thông minh và nhân hậu. Thế nhưng, chính chàng lại rơi vào cạm bẫy của hoài nghi khi để cho Iago quỷ quyệt xúc xiểm mối chân tình của phó tướng Casio, người bạn thiết để nghi ngờ tiểu thư Desdemona, người vợ trong trắng của mình và giết chết nàng. “Vở kịch cho thấy những lý tưởng tốt đẹp của loài người trở thành ảo tưởng chính là chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, mà Iago là đại diện. Nghệ thuật xây dựng vở kịch với hành động thống nhất, kịch tính cao, mâu thuẫn xung đột, và cách giải quyết hợp lý, sự kết hợp giữa cái thơ mộng và cái khủng khiếp, cái tầm thường với cái cao thượng làm cho Othello trở thành một tác phẩm kiểu mẫu.” (Wikipedia)

Còn gì xúc động hơn mối tình trong trắng mạnh hơn cả hận thù và cái chết của hai con người đẹp tựa thiên thần…Romeo and Juliette, bản tình ca chưa bao giờ ngừng tắt giai điệu réo rắt của mọi thế hệ…Nếu chế độ phong kiến đánh giá con người dựa trên dòng máu, địa vị và của cải ngoài thân mà họ có, thì đáng yêu làm sao tâm tình của cô tiểu thư dòng họ Capulet:

– Than ôi! Khốn khổ thân tôi! Roméo! Sao chàng lại là Roméo? Hãy từ bỏ gia đình, hay từ bỏ tên họ đi. Hoặc là chàng hãy hứa yêu em, rồi em sẽ chẳng còn là người thuộc dòng Capulet nữa.

– Chỉ có tên chàng thù hận với em thôi. Còn chàng là chàng, đâu phải là Montaigue. Nghĩa lý gì một cái tên? Đóa hoa mà ta gọi là bông hồng, dù mang tên gì, cũng vẫn ngào ngạt hương thơm. Tên chàng, Roméo ơi! Có dính dáng gì đến bản chất của chàng đâu. (Roméo and Juliette)

Tiếng nói của tình yêu, và lời ngợi ca vẻ đẹp con người của thời đại nhân văn chủ nghĩa chưa bao giờ thôi thúc, quyết liệt hơn W, Shakespeare đã quyết liệt đề cao và vạch mặt… “Thế giới là một ngục tù, mà Đan Mạch là nhà tù khủng khiếp nhất!”
Giả dối, tham lam, lọc lừa, phản trắc… Còn King Lear, một bi kịch của lòng tin khác trong sự đổ vỡ của gia đình và vương quốc thì nhân vật chính: Vua Lear chỉ khi đã mất hết vương quốc, mất cây vương trượng và không còn đôi mắt, mới bàng hoàng đau đớn nhận ra lòng tham lam, sự độc ác bất nhân bất nghĩa của hai cô con gái lớn…Chỉ khi trong tối tăm mù lòa…”Vua Lia giờ đây đã hiểu: hạnh phúc chân chính không phải là được ở trên mọi người, mà chính là ở tấm lòng thanh thản, gần gũi với mọi người khác. Vua sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ miễn là có Corđêlia ở gần”

Và Hamlet ơi, chiều kích thời đại của chàng đã không dung nổi tâm hồn thanh sạch kiêu hãnh và trí tuệ sáng suốt nhưng đầy hoài nghi của chàng. Nó không dung nạp nổi tư duy của chàng: “Kì diệu thay là con người. Nó cao quý làm sao về mặt lí trí. Nó vô tận làm sao về mặt năng khiếu. Về hình dong và dáng điệu nó mới giàu ý nghĩa và đáng chiêm ngưỡng biết bao. Về hành động nó khác nào thượng đế. Thật là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài.” (Hamlet – Shakespeare)

Nhưng dưới ánh sáng trí tuệ và tình yêu, dòi bọ ung nhọt xã hội đảo điên, những xiềng xích của thế giới ngục tù rồi sẽ theo cái chết vĩ đại thanh tẩy tâm hồn con người…

To be, or not to be- that is the question:
Whether ’tis nobler in the mind to suffer
The slings and arrows of outrageous fortune
Or to take arms against a sea of troubles,
And by opposing end them. To die- to sleep-
No more; and by a sleep to say we end…
(Hamlet – Act III, Scene 1 -1750-1754)

Vấn đề là ta kiêu hãnh chịu đựng để trí não đau khổ triền miên…hay dũng cảm đứng lên cầm vũ khí chống lại biển cả ưu sầu, đối mặt với nó, chống lại những mũi tên, lằn roi của định mệnh… Chết ư? Chỉ là một giấc ngủ thôi mà… Không gì nữa…Một giấc ngủ để nói rằng ta đã kết thúc tất cả…

Ôi Hamlet, con người Trí Tuệ và Hoài Nghi! “There is nothing either good or bad, but thinking makes it so”- Không có gì là tốt cũng không có gì là xấu. Nhưng suy nghĩ làm cho nó như vậy. Tuy do dự và không thôi tự vấn nhưng khi trí tuệ đã dẫn đường thì Hamlet đã hành động. Và hành động quyết liệt phá vỡ thế giới giả dối ngục tù phản trắc ấy không thương tiếc.

Câu tự vấn của chàng – Hamlet- Người khổng lồ của thời đại Phục Hưng ấy-chưa bao giờ lỗi thời… Thế giới ngục tù mà chàng phải chịu đựng, phải giả điên, phải hoài nghi…Và cũng chính thế giới giòi bọ ấy thôi thúc chàng phải vùng lên, trả thù cho cha, bắt kẻ ác phải đền tội. Đâu phải chàng do dự yếu đuối khi đã rút gươm ra rồi lại tra gươm vào vỏ không giết tên Chú tồi bại giết Anh lấy Chị dâu. Claudius đang xưng tội với Chúa. Giết hắn là giúp hắn thảnh thơi về Cõi Thiên đàng. Không. Phải bắt hắn chết khi đang say sưa trà rượu,khi đang hoan lạc đám say sắc dục để linh hồn hắn đời đời kiếp kiếp bị đọa đày như cha chàng bị đầu độc khi đang ngủ trong vườn Thượng Uyển sau bữa ăn trưa chưa kịp xưng tội… Không. “The time is out of join. That ever I was born to set it right”. Thế giới đảo điên hết rồi. Phải chăng ta sinh ra là để sắp đặt lại cho yên? Nhưng, chàng đơn độc quá! Bóng ma vua cha có ẫn đười soi lối nhưng chỉ lúc đêm đen. Bình minh đến cha phải ra đi. Hoàng hậu Getrude, người mẹ kính yêu của chàng thì hỡi ôi, “gót giày còn chưa hết bùn đất đám tang (chồng-vua Hamlet cha) đã vội leo lên giường tân hôn”. Mà lấy ai cơ chứ? Tên chú bất tài xấu xa không có chút gì phong thái uy nghi như Vua Hamlet anh- thần tượng kính yêu của chàng. Và  Ophelia xinh đẹp trong trắng đức hạnh đáng yêu là thế nhưng rồi cũng chỉ là kẻ phục tùng mệnh lệnh của cha để làm kẻ dò xét chàng có thật điên hay giả vờ mưu kế… Bạn bè thì bán đứng nhau vì bổng lộc đớn hèn…

Tiếng thét của Hamlet, phải chăng cũng chính là những dằn vặt nội tâm của chính mỗi con người trong thời đại chúng ta.

To Be or Not to Be
That ‘s a Question!

Oh. My Lord, in our time, To Be or Not To Be?
Sống hay không sống?
Sống hay không sống?

Tản mạn…22.4.2015

Nhân 451 năm ngày sinh-399 năm ngày mất nhà viết kịch huyền thoại nước Anh.

HKO

(Đã đăng nội san tháng 5-2015- CLBNYS NGUYỄN HUY TƯỞNG)

d1c711cd315e4601b237940265e502a9

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

61. TẢN MẠN VỚI “TỈNH MÊ MỘT CÕI” và nhà văn NGUYỄN VĂN SÂM

 

IMG_5378

Thật tình cờ trong những tình cờ, tôi gặp lại anh Nguyễn Văn Sâm trong buổi nói chuyện của nhà văn Phan Nhật Chiêu về “Một thời để yêu và một thời để chết” (A Time for Love and a Time for Die) của Erich Remarque tại Salon Văn hóa café thứ Bảy. Lâu nay vẫn nghĩ anh đang ở Cali, không biết anh đã về Việt Nam. Anh cùng bạn ra về trước khi kết thúc buổi tọa đàm, có ghé qua chỗ tôi ngồi dặn nhỏ : “Cô nhớ đến Nguyễn Tiểu La, tôi gửi tặng sách, có nhắn cô trên FB mà không thấy trả lời…”

Thiệt tình…, tôi về mở lại trang Sam Nguyen quả có thấy lời nhắn nhân hôm Sinh nhật anh bảo cho số điện thoại, mà tôi không biết… Vô tình thiệt đáng trách! Hôm sau, dạy xong 6 tiết từ Sư Vạn Hạnh, tôi chạy đến nhà anh theo địa chỉ xin được từ anh Trương Văn Dân giữa cái năng gay gắt 12h trưa tháng 4 Sài Gòn… Tôi chẳng còn nhìn ra con đường rất quen, rợp bóng cây cao ngày nào trong kí ức dịu dàng trìu mến của tôi thời trung học đệ nhị cấp…Không nhớ bao nhiêu lần tôi đã chạy Honda PC hay xe đạp đến học, đến chơi nhà cô bạn thân suốt 3 năm học cùng ngồi một bàn, nay đã vời vợi một đại dương…

Con đường này, ngày nay vẫn giữ nguyên tên cũ: Nguyễn Tiểu La.

Trong bồi hồi nỗi niềm cũ mới, không khó lắm để tìm ra nhà anh. Ngôi nhà số 26 của nhạc mẫu GS Nguyễn Văn Sâm nằm ngay ngõ 223 Nguyễn Tiểu La. May là tôi không đến quá muộn. Mấy chiếc valise ở góc nhà đã đóng gói, dán tên, sẵn sàng cho chuyến trở về US sáng mốt, thứ tư 8.4.2015 của vợ chồng anh. Anh chị đang có khách: BS Thân Trọng Minh – Nhà thơ Lữ Kiều quen thuộc của Quán Văn. Và cũng bất ngờ, anh Lữ Kiều nhẹ nhàng gọi tên tôi đầy đủ: Hoàng Kim Oanh. Vâng, em.

Thật lòng, bao nhiêu lần ra mắt các số Quán Văn, gặp nhau, tôi chỉ gật đầu chào, chưa lần nào bắt  chuyện… Tôi sợ cái chuyện lăng xăng “bắt quàng…” mà tôi thậm ghét. Cho nên đây là lần đầu tiên tôi có dịp nói chuyện với anh. Chất Huế dịu dàng trong giọng nói và cử chỉ điềm đạm của anh đầy thân ái khiến chuyện giữ kẽ khách sáo giữa hai người gặp nhau lần đầu bỗng trở nên không cần thiết…Nhớ hồi đầu sinh hoạt với Quán Văn, tôi cứ nhầm lẫn hai tác giả Lữ Quỳnh và Lữ Kiều…! Không hẹn mà nghe tôi trả lời cấp 3 học Trưng Vương, hai anh đều kể về một cô bạn Trưng Vương người gốc Huế lớp 12C trước 75 của tôi, hiện là một nhà văn rất thành đạt ở Hoa Kỳ… Cũng là chỗ thân thiết… Thật bất ngờ thú vị. Trái đất này thật ra không quá rộng lớn như ta nghĩ…

Lan man, chúng tôi nói về một số tác phẩm – con đẻ của anh Nguyễn Văn Sâm “lưu lạc” ở Việt Nam… Anh cũng không bất ngờ khi tôi kể công trình “Văn học Nam Hà” của anh tôi mua được ở…vỉa hè cùng nhiều cuốn sách ngoại văn khác mang tên Shakespeare, Lev Tolstoi, Herman Melville, Faulkner, A.Rimbeau… đổ đống trên đường Lê Lợi ngày xưa dù đối diện với nó là Nhà sách Khai Trí bệ vệ bên đường…
– Có mấy người quen hay tui về, có đem sách đến xin chữ kí, họ cũng nói…mua được ở vỉa hè!
Ôi…thật cảm ơn nền Văn chương vỉa hè! Văn học vỉa hè! Văn hóa vỉa hè!

Sau này, trong tủ sách của tôi, dù đã có bản mới, đẹp hơn, đầy đủ trọn bộ nhưng tôi vẫn giữ những tác phẩm in từ trước 75 hoặc những năm bao cấp…Mỗi cuốn sách như một đọan đời tôi cứ lướt qua…Thỉnh thoảng, có việc cần tra cứu, lục lại tủ sách cũ…tình cờ gặp cuốn sách từng yêu thích, nhè nhẹ giở lại những trang sách vàng ố, tuởng chỉ chực rã nát nếu không gượng nhẹ nâng niu, lòng cứ bồi hồi vẩn vơ như gặp lại cố nhân…

 

– Cuốn này là cuốn cuối cùng. Sáng thứ tư, tui bay về bển rồi. Tưởng cô không đến kịp thì gửi lại thôi…Còn mấy quả xoài này là tui chuẩn bị biếu cô!

Nghe mà thương quá…cái giọng Nam Bộ rặt hiền hòa thật thà bình dị…không chút khách sáo đãi bôi của anh dẫu đã xa quê hơn 30 năm đằng đẵng, giảng dạy, viết lách, tiếp xúc với bao ngôn ngữ khác vẫn không chút đổi thay…Đúng là “hương âm vô cải”…

Ngồi nhìn anh nắn nót mấy dòng kí tặng trên trang bìa tập truyện Nôm do anh phiên âm và chú giải “Tỉnh mê một cõi” tôi chợt lan man liên tưởng 40 năm xưa…thời trẻ của anh, một giáo sư Việt văn ở SG…
Tôi biết anh là người Sài Gòn chính cống…. Từng là giáo sư dạy ở các trường Nguyễn Ðình Chiểu, Mỹ Tho, Pétrus Ký, Ðại Học Văn Khoa (Sài Gòn) và các trường Ðại Học Vạn Hạnh, Cao Ðài, Hoà Hảo, Cần Thơ…
Tôi biết anh sang Mỹ từ năm 1979, và vẫn sống bằng nghề dạy học, viết văn như một nghiệp dĩ…”Đã mang lấy nghiệp vào thân”… Anh viết cho Văn, Văn Học và các tạp chí Việt ngữ của người Việt. Anh còn là thành viên Ban Biên Tập Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn. Trưởng ban Văn chương, Viện Việt-Học tại Hoa Kỳ.

 

Tôi biết những ngày tháng trên quê hương thứ hai ấy, ngoài biên khảo, anh còn viết truyện ngắn vì những thôi thúc phải nói lên suy nghĩ của mình về quê hương và thân phận người Việt, ngay trên quê hương, hay lạc loài tha hương…

Gần đây nhất, anh có gửi cho tôi bài viết về nhà thơ Kiên Giang khi nhà thơ qua đời. Bài viết xúc động ấy, anh đã ủy quyền cho tôi gửi đăng trên Quán văn và Tạp chí Xưa và Nay (với sự giúp đỡ của nhà báo Lam Điền). Số tiền nhuận bút 250 ngàn tòa báo trả đã được anh cộng thêm tiền túi của mình khoảng 5, 7 lần như thế nữa để giúp một người bạn có tuổi gặp khó khăn ở VN…

 

Tôi cũng biết những năm tháng gần đây, GS Nguyễn Văn Sâm lại hứng thú trở về gia tài cổ của dân tộc bằng cách phiên âm các tuồng hát bội, truyện thơ viết bằng chữ Nôm chưa từng được phiên âm mà nguyên bản hiện còn đang nằm trong các thư viện lớn ở Âu Châu…như Tam Quốc Diễn Nghĩa, Lôi Phong Tháp, Sơn Hậu Diễn Truyện, Trương Ngáo v.v… (theo: http://www.viethoc.com/Ban-Ging-Hun/nguyen-van-sam)

 

Và lần về VN này, anh đã cho in lại bản “Tỉnh mê một cõi” (tức Hứa Sử truyện) mà anh đã công phu phiên âm, chú giải từ bản tiếng Nôm này như chút tình văn nghệ làm quà cho anh em bè bạn ở quê nhà. Đây là một tác phẩm Phật giáo viết bằng chữ Nôm, lưu truyền từ thế kỉ 18, một “công trình tim óc và chấp bút của những người miền Nam với nhiều từ ngữ của vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh được sử dụng nhuần nhuyễn, chỉ có mặt trong tự vị của Huình Tịnh Của mà những tác giả Bắc Trung trước hay sau đó chưa có lần nào dùng” (Trần Ngọc Ninh, Tỉnh mê một cõi, tr.14). Truyện này từng được GS Lê Mạnh Thát tìm thấy dưới cái tên cũ là Hứa Sử Truyện Vãn trong một ngôi chùa và được cho là của nhà sư Toàn Nhật, một cựu tướng Tây Sơn, trước tác và chép ra. Song như nhiều tác phẩm tôn giáo của Việt Nam, tính chất vô danh của tác phẩm do sự cố tình gạt bỏ tên mình ra khỏi tác phẩm của các vị chân tu vì coi tên mình vốn không quan trọng, tác phẩm này có thể đã được thêm thắt, sửa đổi trở thành công trình của tập thể.

Đối với một nhà sư, sự vô danh trong việc trước tác còn quan trọng hơn vì mang ý nghĩa triết lý. Kiếp người là một sát na tạm bợ, là đời sống của sương sa sấm chớp. Lạc vào cõi trần thế này một đời chỉ là vài giây phút so sánh với muôn ngàn kiếp của cái chơn linh, chơn giác nên sẽ ra đi không lưu ảnh, ở không nhất thiết lưu hình, trước tác không cần lưu danh”

(Tỉnh mê một cõi, tr.11)

 

Nội dung tác phẩm là câu chuyện của một người tỉnh thức khi sống trong cõi tỉnh mê của trần đời. Nhân vật chính là Hứa Sử đã sống Thức Tỉnh. Sống trong Cõi Mê là bấu víu vào đời, sống theo bản năng mê muội, tranh danh đoạt lợi, ham muốn, muộn phiền của chúng sinh huyễn hoại… Sống Tỉnh Thức là biết giũ bỏ, dứt khoát với những hệ lụy, bước vào đường hạnh tu…

Điểm đặc biệt là tư tưởng của tác phẩm pha trộn giữa niềm tin Phật Giáo với những điều răn dạy căn bản của Nho Giáo như đề cao ý niệm ngũ thường Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín và coi như đó là căn bản của sự sống tốt đẹp của con người mà không có nó là sai quấy lớn của đời người:

 

Năm hằng chẳng giữ, theo về súc sanh

(Tỉnh mê một cõi, trang 15)

 

Cũng từ ảnh hưởng giao thoa đó, tư tưởng chủ đạo trong Hứa Sử truyện rất đề cao vai trò và vị thế của người Thầy theo quan niệm Nho Giáo đề cao Quân, Sư, Phụ pha trộn với quan niệm tôn trọng Phật, Pháp, Tăng của Phật Giáo. Hay coi trọng tình bằng hữu, tôn quân…

Cũng là tiết nghĩa phò vua,

Trạch dân trí chúa, cơ đồ đặt an.

(Tỉnh mê một cõi, trang 171)

 

Đệ tử nếu phụ ơn thầy,

Phật không cứu đặng, lịnh rày chẳng tha.

(Tỉnh mê một cõi, trang 170)

 

Với phụ nữ, truyện đề cao tam tòng tứ đức của Đạo Nho, ca ngợi những người trung trinh tiết liệt:

 

Thờ chồng trọn đạo trước sau,

Chẳng hề biến chí, không màu cải dung.

Chói danh vẹn chữ tam tòng,

Gia trung Nhứt phẩm nữ trung ít tày

Khuyên đời giữ tiết sạch ngay,

Đàn khêu chớ đụng, chặt tay tua bì.*

(Tỉnh mê một cõi, trang 285)

 

Về hình thức, sách bìa cứng, đẹp, dầy 467 trang, gồm 3 phần.
Phần thứ nhất: Thay lời tựa để dẫn giải vào truyện “Tỉnh mê một cõi”- Một thời của lịch sử văn chương Việt Nam- do Trần Ngọc Ninh giới thiệu và nhận định (trang 23-105)
Phần thứ hai: “Tỉnh mê một cõi” hay Hứa sử truyện-Nguyễn Văn Sâm phiên âm và sơ chú. (trang 106-298)
Phần thứ ba: Nguyên văn chữ Nôm (trang 299-465)

 

Phần thứ ba này thú thật tôi mù tịt. Xấu hổ nói với anh: “Chắc hợp với ông xã nhà em,  em thì Hán – Nôm 40 năm xưa có học…vẽ được 3 tháng! Trả hết về thầy rồi ạ.”  Nghe vậy, anh nói luôn: “Vẫn còn vài chỗ in chưa đúng, tôi sẽ chỉnh sửa lại.” Tuy dốt đặc không dám lạm bàn về ý nghĩa, nhưng quả thật những trang nguyên văn chữ Nôm trong tập truyện anh Nguyễn Văn Sâm công phu chú giải khiến tôi kính nể cách làm việc nghiêm túc, có trách nhiệm, có lương tâm và trân trọng thêm một tác phẩm đúng quy cách một công trình khoa học.

 

Tẩn mẩn đọc đến mấy dòng viết tay ở góc cuối trang cuối cùng…bỗng sao mà rưng rưng bồi hồi quá, anh Nguyễn Văn Sâm ơi!

Xin chép lại nguyên văn vào đây để kết thúc những dòng tản mạn lang thang này của tôi:
“Dán lại những trang rời, dán bìa bằng nylon, bồi lại những chỗ nát, rách. Tình cờ thấy các dấu chấm câu, đồ chữ, thêm chữ của người đọc trước đây, tự nhiên lòng thấy bồi hồi vô hạn. 126 năm đã trôi qua! Số phận sách sẽ ra sao 126 năm nữa? Ghi lại chút cảm hoài của một người bận bịu vì sách vở, nặng nợ với sách vở của người xưa.”

Diệu Thủ chủ nhân.

25/07/2006

 

Tính đến nay, 126 năm + 9 năm = 135 năm đã đi qua.

Ôi hơn một thế kỉ đời sách!

Sao giữa canh khuya lòng tôi cũng bồi hồi vô hạn…

135 năm đã trôi qua! 135 năm nữa thì sao? Có thể sách sẽ lại lăn lóc vỉa hè hay bụi bặm nơi nào đó…? Có thể bị xé đốt tiêu hủy như thời Kiệt Trụ xa xăm…?

 

May mắn thay, còn có chút cảm hoài này…để hồn xưa còn được nâng niu, còn được tái sinh trong những trang giấy mới tinh còn thơm mùi mực này…Cảm ơn biết bao công khó thầm lặng cuả một người tự nhận mình nặng nợ với sách vở của tiền nhân…

May mắn thay vẫn còn có anh, còn có các thế hệ đã qua và đang qua, còn có những thế hệ đang sống và sẽ sống tiếp những gì thế hệ trước chưa kịp sống…Tin rằng những người trẻ hôm nay, sau bao nhiêu dâu bể, sẽ thấu hiểu về cội nguồn, thấu hiểu những đau đớn oan khiên thân phận của một dân tộc hiền hòa, anh dũng mà đầy khổ đau như dân tộc chúng ta, để biết nâng niu, trân quý…không phụ phàng những tâm tình của người xưa gửi gắm trong từng con chữ còn sót lại hôm nay…

 

Lật trang cuối, có một chi tiết thật dễ thương mà chị Nguyễn Văn Sâm vui vẻ, tự hào tiết lộ:

– Ngọc Ánh đánh máy, trình bày… là tui đó.

 

Rất ư là Nam Bộ!

 

Và khi chào tạm biệt ra về, anh chị cứ dặn đi dặn lại:

  • Cuối trang có địa chỉ và số phone của tụi tui, anh Lữ Kiều, cô Oanh và anh em Quán Văn có dịp qua Mỹ cứ phone cho tụi tui…về nhà tui chơi. Tụi tui lúc này nghỉ hưu rồi, có thời gian rảnh rỗi, có xe, biết đường biết xá, cô và anh em muốn thăm bạn bè tụi tui chở đi…

 

Cảm ơn anh chị. Cảm ơn một ân tình lặng lẽ mà sao thật xúc động.

Cảm ơn một buổi trưa đẹp ở con đường kỉ niệm tuổi nhỏ thương nhớ của tôi.

Có phải văn chương và niềm đồng cảm trước cái đẹp đã kết nối những tâm hồn dẫu cách xa ngàn dặm không gian vật lý, dẫu cách xa bao thế hệ thời gian trong cõi Tỉnh Mê mờ mịt này?

 

Thị Nghè, 10-4-2015
Hoàng Kim Oanh
(Bài đã đăng trong Tập san VHNT Quán Văn số 33, tháng 9 năm 2015, trang 246-254)

IMG_5379

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

60.TRÊN TÀU SE2 ĐI PHAN RÍ

 

 

IMG_3633

(Photo: HKO)

Lâu rồi mới trở lại cảm giác xôn xao nghe tiếng còi tàu,
hối hả mà khoan hoà,
giục giã mà mời gọi…
SG. Bình Triệu. Dĩ An. Biên Hoà. Dầu Giây. Long Khánh. Bình Thuận…
Xình xịch
Xình xịch
Trò chơi trẻ nhỏ
Khúc khích đêm trăng

Trời xanh
Những hàng thanh long lặng im vươn mình trong nắng
Sông xa…
Sóng xa…
Xa.

Phan Thiết ơi!
Trời vẫn xanh
Núi vẫn xa
Chạm trời
như triệu triệu năm rồi vẫn chạm
Và tôi
chợt bắt gặp mình trong
câu thơ Phạm Cao Hoàng “ta chạm nỗi đìu hiu” Vũ Trọng Quang đọc khi ngồi ven đuờng Bà Riạ chờ Nguyễn Bắc Sơn hoá thân thành cát bụi.
Anh lính cậu hiền khô
Hành quân cùng rượu đế
Coi bom đạn là trò chơi pháo tết. Mà đau.
Mây Phan Thiết xanh ngắt trong nắng tháng tư chói chang hừng hực
Không biết chòm mây nào
Không biết ngọn gió nào
Không biết cành cây ngọn cỏ nào
anh Sơn đang thức dậy
cùng đọc thơ
và bình thơ Đặng Tiến
Rồi cười xoà: phải dzậy chớ!
anh có cả một “vũ trụ thơ” * mà…

Xình xịch
Xình xịch
Ma Lâm
Ma Lâm
Rừng thiêng nước độc
Xình xịch qua đi
Nhẹ tênh
Nửa thể kỷ buồn
Bao cuộc đời lịch sử xé nhầm trang

Tàu đang vào Ga Sông Mao
Cái địa danh tôi luôn thôi thúc phải đến, phải về…
Tìm câu thơ Nguyễn Bắc Sơn đánh rơi những mùa chinh chiến năm nao

Chiến tranh xa tít như là mộng**
Nhưng quá dài
Nên người quá khác…
Đêm đen quá dài
Không tin cả bình minh…
Không tin…
Không tin…
Sông Mao
Sông Mao
Xình xịch
Xình xịch
Tàu đang vào ga Sông Mao…

16:33pm
12.4.2017
SE2

* Vũ trụ thơ, tên tập nghien cứu phê bình văn chương của tác giả Đặng Tiến.
** thơ Nguyễn Bắc Sơn

 

 

Đăng tải tại My Poetry | Bạn nghĩ gì về bài viết này?